Tin tức

Ban biên tập xin trích bài viết dự thi của tác giả Lê Ngọc Diệp - khoa Toán - Lý - Tin trong cuộc thi "Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào" với chủ đề "Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong lịch sử của hai dân tộc và trên những chặng được phát triển mới".

Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết, bền chặt, thủy chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh giành độc lập tự do và tiến bộ xã hội. Mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, sự hợp tác toàn diện này giữa hai nước đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cay xỏn Phômvihản đặt nền móng. Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là quan hệ đặc biệt quy định sự sống, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của hai dân tộc trong lịch sử, cũng như trên những chặng đường phát triển mới. Việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong lịch sử của hai dân tộc và trên những chặng đường phát triển mới là vô cùng quan trọng.

Trong phạm vi bán đảo Đông Dương Việt Nam nằm ở phía đông Trường Sơn như một bán đảo lớn nhìn ra biển; Lào nằm ở sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào đất liền của bán đảo; dãy Trường Sơn được ví như cột sống của hai nước và tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt nam và Lào. Như vậy địa hình tự nhiên ở Việt Nam và Lào đã quy định hệ thống giao thông của hai nước cùng chạy dài theo trục Bắc - Nam; ở Việt Nam là trục quốc lộ 1A và ở Lào là trục quốc lộ 13. Về mặt tự nhiên bên cạnh con đường 13 nối Pạc Xê - Thành Phố Hồ Chí Minh. Lào có thể thông thương ra biển gần nhất bằng hệ thống đường xương cá chạy ngang trên lãnh thổ hai nước đó là đường 6 Sầm Nưa - Thanh Hoá, đường 7 Xiêng Khoảng - Nghệ An, đường 8 Khăm Muộn - Hà Tĩnh, đường 9 Xavẳnnakhệt - Đông Hà, đường 12 Khăm Muộn - Quảng Bình.... Các yếu tố địa hình đã đặt ra yêu cầu tất yếu về sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai dân tộc trong lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Mặt khác, Việt Nam và Lào là những nước thuộc loại “vừa” và “tương đối nhỏ” sống bên cạnh nhau chiếm vị trí địa chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á do nằm kề con đường giao thương hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn độ Dương. Lãnh thổ Việt Nam trải dài theo chiều dọc của bán đảo, mặt hướng ra biển đông với bờ biển dài 3260 km, tiếp giáp với Vịnh Bắc bộ, biển Đông và Vịnh Thái Lan, có nhiều cảng biển lớn nhất là các các biển nước sâu ở Miền Trung. Vì bờ biển Việt Nam ở phía Đông tương đối dài nên việc bố trí quốc phòng về mặt biển gặp không ít trở ngại. Trong khi đó nếu dựa vào địa hình hiểm trở, nhất là với dãy Trường Sơn - một “lá chắn chiến tranh” hùng vĩ, một lợi thế tự nhiên che chắn cho cả Việt Nam và Lào, nên khi liên kết với nhau chẳng những hai nước có thể khắc phục được những điểm yếu “hở sườn” ở phía đông mà còn phát huy được sự cần thiết dựa lưng vào nhau tạo ra vô vàn cách đánh của chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc. Nhân dân hai nước có thể lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh, giành thắng lợi từng bước, tiến lên đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

Về quân sự, Cánh đồng Chum- Xiêng Khoảng, hay cao nguyên BôlaVên của Lào và Tây Nguyên của Việt Nam, vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Đông Bắc Lào.... đều là những vị trí có tầm chiến lược hàng đầu trên bán đảo Đông Dương. Nhiều nhà chiến lược và quân sự cho rằng: Ai nắm được địa bàn chiến lược trên, người đó sẽ làm chủ toàn bộ chiến trường Đông Dương.

Mối quan hệ Lào - Việt Nam được bắt nguồn từ nền móng tư tưởng vững chắc do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản xây dựng là mối quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện, trước sau như một, không bao giờ thay đổi. Lịch sử còn cho thấy Nhân dân hai nước Việt Nam, Lào, Campuchiacó truyền thống bang giao hòa hiếu, cưu mang đùm bọc lẫn nhau từ lâu đời. Cuối thế kỷ XIX cùng bị thực dân Pháp xâmlược và đặt ách cai trị tàn bạo, giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức trong ba nước muốn đánh đổ thực dân Pháp, giành lại độc lập, đánh đổ chế độ phong kiến để giải phóng cho mình. Tuy nhiên các phong trào trên đều bị chính quyền thực dân đàn áp, dập tắt, song mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào trong những năm đầu chống sự xâm lược và ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp cho thấy việc xây dựng khối đoàn kết đấu tranh trở thành một nhu cầu tất yếu khách quan của hai dân tộc. Xác định con đường cứu nước đúng đắn và xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc là những nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho các nhà lãnh đạo phong trào yêu nước và cách mạng trên bán đảo Đông Dương.

Từ những năm 1928 - 1929 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống, làm việc và hoạt động trên đất Thái Lam hơn 6 tháng. Những ngày hoạt động ở Nakhon Phạnôm, Người đã đi đò qua sông Mê Công sang tỉnh Khăm Muộn, Lào. Đến bản Xiềng Vang, xã Xiềng Mương, huyện Noỏng Bốc, Người gặp gỡ bà con người Lào và người Việt sinh sống ở đây. Nói chuyện với bà con, Người căn dặn người Lào và người Việt phải đoàn kết giúp đỡ nhau, chung sức chung lòng đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi Lào, ra khỏi Việt Nam, giải phóng hai nước thoát khỏi ách nô lệ. Người phổ biến kinh nghiệm cho bà con về việc tổ chức các đoàn thể yêu nước và đoàn thể cách mạng tại Lào. Theo báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản, Người ở Thái Lan đến tháng 11/1929, sau đó Người đến Lào hoạt động một thời gian. Tại Lào, Người nhận xét “dân cư rất phân tán, hầu hết theo đạo Phật”. Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập ngày 3/2/1930 là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp tháng 10-1930 thông qua Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Hòa nhịp với cao trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, từ những năm 1930, những cán bộ ở Lào từng được Nguyễn Ái Quốc đào tạo và những cán bộ giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin do Người truyền bá, đã lãnh đạo phong trào đấu tranh ở Viêng Chăn, Bò Nèng, Phôn Tịu, Thà Khẹt, Pắc Xế, Xiêng Khoảng. Tháng 9/1935, Đảng bộ Lào có hai Tỉnh ủy là Viêng Chăn và Xavẳnnakhệt và các tổ chức đảng ở Bò Nèng, Phôn Tịu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tuy bị địch khủng bố gắt gao, phong trào đấu tranh vẫn lan rộng, lực lượng các cách mạng phát triển, dẫn tới việc thành lập Đảng Nhân dân Lào, tiền thân là Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1935, Cayxỏn Phômvihản, với tên gọi Nguyễn Trí Mưu, rời quê hương Lào đi Hà Nội, Việt Nam để dự thi vào Trường Bưởi (nay là Trường phổ thông trung học Chu Văn An, Hà Nội). Trong những ngày học tại Trường Bưởi, ông đã giác ngộ cách mạng theo đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1948, ông trở về nước, lãnh đạo phong trào kháng chiến chống Pháp ở vùng Đông Bắc Lào. Gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương từ 1949 và cũng vào năm đó chủ trì lễ thành lập Quân đội Itxala (Quân đội nhân dân Lào), đơn vị Latxavông được vinh dự làm hạt nhân cho việc thành lập Quân đội Lào Itxala, ông được cử làm Tư lệnh. Tháng 8-1950, Chính phủ kháng chiến Lào Itxala do Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch được thành lập, Cayxỏn Phômvihản được cử làm Phó chủ tịch, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngày 22/3/1955, tại tỉnh Hủaphăn, ông đã chủ trì Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào theo Nghị quyết Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương. Cùng với các nhà lãnh đạo cách mạng Lào ông đã tổ chức ra Đảng Nhân dân Lào (Phắc Paxaxôn Lào) trên cơ sở Đảng bộ Lào thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương. Cayxỏn Phômvihản được bầu làm Bí thư thứ nhất của Ban lãnh đạo Đảng, Bí thư Quân ủy trung ương, đồng thời là Tư lệnh tối cao.

Là một trong những nhà hoạt động quốc tế tích cực của Đảng và Nhà nước Lào, ông luôn luôn nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng, đóng góp nhiệt tình vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới nhằm mục tiêu một nền hòa bình, hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc. Hoạt động quốc tế của ông đã góp phần quan trọng nâng cao vị thế của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào trên trường quốc tế.

Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản luôn chăm lo mối tình đoàn kết, thủy chung son sắt, quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam. Theo ông, thắng lợi của cách mạng Lào cũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu chặt chẽ giữa cách mạng của ba nước Đông Dương. Đó là sự hợp đồng chiến đấu theo tinh thần anh em và tình đồng chí giữa cách mạng ba nước; đó cũng là mối quan hệ quốc tế trong sáng và mẫu mực. Ông nói “Nhân dân Lào chúng tôi vô cùng hãnh diện có nhân dân Việt Nam anh hùng vừa là đồng chí vừa là anh em thân thiết của mình”.

Picture1

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (thứ ba, từ trái sang) và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (thứ tư, từ trái sang) cùng các cán bộ quân đội Việt - Lào bàn kế hoạch mở Chiến dịch Thượng Lào năm 1953

Ảnh: http://songoaivu.binhphuoc.gov.vn

Trong tiến trình cách mạng, mỗi bước phát triển của cách mạng Lào đã tạo hậu thuẫn cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi và ngược lại thắng lợi của cách mạng Việt Nam tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển. Mối quan hệ đó xuất phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đấu tranh giải phóng mang bản chất quốc tế vô sản, mang lại hiệu quả rõ rệt. Trong sự nghiệp chung, Lào và Việt Nam đã trở thành những người bạn, những người đồng chí, những người anh em máu thịt, chung một kẻ thù, chung một chiến hào đánh thực dân Pháp, đánh đế quốc Mỹ. Có thể thấy rằng, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam còn là mối quan hệ giữa hai dân tộc cùng chung lý tưởng chiến đấu, là tài sản vô giá, là quy luật giành thắng lợi của hai dân tộc. Việc gìn giữ và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam chính là gìn giữ thành quả cách mạng mà biết bao thế hệ quân dân hai nước đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của hai nước; gìn giữ truyền thống và bản sắc tốt đẹp của nhân dân hai nước được lưu truyền qua nhiều thế hệ; gìn giữ công cuộc xây dựng đất nước và cuộc sống ấm no mà nhân dân hai nước đang thụ hưởng.
Nhân dân Lào đã cùng Việt Kiều tích cực đấu tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 - 1939 và tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền giai đoạn 1939 - 1945. Hợp tác giúp nhau chống thực dân Pháp xâm lược; phối hợp đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, chống Chiến lược chiến tranh đặc biệt của Đế quốc Mỹ, thiết lập quan hệ ngoại giao (1954 - 1962); Ngày 30/04/1975 Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất tổ quốc; Đến 05/05/1975, Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tổ chức Hội nghị mở rộng, quyết định phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong cả nước nổi dậy đoạt lấy chính quyền và giành thắng lợi hoàn toàn. Tháng 12/1975, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời đây là thắng lợi to lớn, triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợi quan trọng của mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào; Một trong những biểu tượng của tình hữu nghị thủy chung gắn bó keo sơn giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào trong suốt chặng đường kề vai sát cánh bên nhau đấu tranh chống kẻ thù chung là Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ là Nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An là nghĩa trang duy nhất của Việt Nam mang tên hai quốc gia, hai dân tộc, cũng là nơi an nghỉ của hơn 11.000 cán bộ quân tình và chuyên gia quân sự Việt Nam đã ngã xuống trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của nước bạn Lào.

Đối với nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào cũng không thể chia tách được. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ:

“Thương nhau mấy núi cũng trèo.

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua

Việt - Lào, hai nước chúng ta

Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.

 Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản khẳng định: “Trong lịch sử cách mạng thế giới cũng đã có những tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài toàn diện như vậy”. 

Picture2

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản

Ảnh: Sách Ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào/Nhà xuất bản Thông tấn

Sau năm 1975, quan hệ giữa 2 nước Việt Nam - Lào bước sang một trang hoàn toàn mới, chuyển từ liên minh chiến đấu sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền. Đi vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam và Lào đều phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, ổn định xây dựng đất nước, từng bước mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện trong giai đoạn khảo nghiệm, mở đường đổi mới (1976 - 1986).Để đưa quan hệ Việt Nam - Lào phát triển toàn diện và ngày càng đi vào chiều sâu, hai nước đã ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác vào ngày 18/7/1977, sự kiện này khẳng định quyết tâm của lãnh đạo, Nhân dân hai nước tiếp tục củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước trong thời kỳ mới - thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước.

Picture3

Tổng Bí thư Lê Duẩn và Tổng Bí thư Cayxỏn Phômvihản ký Tuyên bố chung Việt Nam - Lào ngày 18/7/1977

Ảnh: Sách Ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào/Nhà xuất bản Thông tấn

Trước những khó khăn gay gắt của khủng hoảng kinh tế - xã hội ở cả Việt Nam và Lào cuối thập kỷ 70 và thập kỷ 80 thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã nhìn thẳng vào sự thật, nhận ra những sai lầm chủ quan duy ý chí, nóng vội muốn đi nhanh lên Chủ nghĩa xã hội theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp. Tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) và Đại hội IV của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (11/1986), hai Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện ở cả hai nước, trước hết là đổi mới kinh tế. Từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986 đến nay, quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục được củng cố, tăng cường và đạt được nhiều thành tựu to lớn, tạo thế mạnh cho cả hai nước trong sự nghiệp đổi mới cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những kết quả tốt đẹp mà hai nước đạt được trong quá trình thực hiện Hiệp ước, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội, khoa học kỹ thuật là động lực thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào không ngừng phát triển.

Hai nước thường xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc cấp cao, duy trì cơ chế trao đổi thông tin, lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công cuộc đổi mới và xây dựng Đảng; hoàn thành và công bố các sản phẩm của Công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào. Tiếp tục đi sâu trao đổi thông tin, kinh nghiệm, nhất là những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Đảng, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn mới, trong đó đặc biệt quan tâm việc tuyên truyền, giáo dục dưới nhiều hình thức về công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. 

Picture4

Quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào. (Ảnh: TTXVN)

Hợp tác Giáo dục - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực luôn là lĩnh vực ưu tiên trong quan hệ hợp tác Việt - Lào. Hai nước đã xây dựng và triển khai “Đề án nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác Việt Nam - Lào trong lĩnh vực giáo dục và phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2020”, coi đây là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực hai nước, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước. Trong năm 2012, hàng loạt các công trình, dự án sẽ hoàn thành chào mừng Năm đoàn kết hữu nghị Việt - Lào, như Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lào, Đường 2E, Nhà máy thủy điện Xe KhamAn, Trường PTTH dân tộc nội trú Hủa Phăn. Trong năm học 2015 - 2016, Việt Nam tiếp tục dành cho Lào 1000 suất học bổng và Lào dành cho Việt Nam 60 suất học bổng. Hiện nay có hơn 14000 cán bộ, sinh viên Lào học tập tại Việt Nam, trong khi Việt Nam cũng có gần 300 cán bộ, sinh viên đang theo học tại Lào…

Để thúc đẩy trao đổi thương mại hai nước, Bộ Công Thương hai nước đã phối hợp tổ chức Hội nghị phổ biến Hiệp định Thương mại và Hiệp định Thương mại biên giới Việt Nam - Lào tại tỉnh Xavẳnnakhệt và thủ đô Viêngchăn (05 - 06/07/2016). Tính đến tháng 2/2017, Việt Nam đầu tư sang có 408 dự án được cấp phép đầu tư, tổng vốn đầu tư khoảng 3,7 tỷ USD. Nhiều dự án đầu tư phát huy hiệu quả, sản xuất kinh doanh có lãi, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển của hai nước, tạo công ăn việc làm, phúc lợi xã hội… giúp Lào thực hiện tốt chính sách xóa nghèo, được phía Lào ghi nhận và đánh giá cao.

Tại cuộc hội đàm ngày 15 tháng 5 năm 2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Thoonglun Xixulít đều bày tỏ sự hài lòng về mối quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào không ngừng được củng cố và phát triển, ngày càng gắn bó và tin cậy. Hai Thủ tướng nhất trí hai bên đã đạt được nhiều mục tiêu quan trọng trong Chiến lược hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật Việt - Lào giai đoạn 2011 - 2020. Đặc biệt, Hiệp định về hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Lào giai đoạn 2011 - 2015 đã được triển khai tốt, góp phần không ngừng củng cố và phát triển quan hệ song phương cả về chiều rộng và chiều sâu. Bên cạnh đó, Việt Nam và Lào thường xuyên trao đổi thông tin và phối hợp chặt chẽ trong các vấn đề quốc tế và khu vực, hoạt động tại các tổ chức và các diễn đàn đa phương. Sự ủng hộ mạnh mẽ và toàn diện của hai Đảng, hai nước dành cho nhau trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước của mỗi nước là vô cùng quan trọng và to lớn.

Thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh. Toàn cầu hóa vừa có thời cơ cho sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời cũng là những thách thức to lớn, nhiều khi hoàn toàn mới mẻ không một quốc gia riêng lẽ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương. Mặt khác vị trí chiến lược của Đông Nam Á ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương từ lâu đã trở thành địa bàn tranh chấp ảnh hưởng và quyền lực giữa các nước lớn trên thế giới. Khu vực Đông Nam Á ngày càng trở nên sống động, không chỉ bởi sự gia tăng hợp tác và liên kết nội khối, mà còn trở thành nơi hội tụ của các sáng kiến mới thúc đẩy quan hệ hợp tác ASEAN với các đối tác bên ngoài, đặc biệt là với các nước lớn và các nước đang phát triển. Trước xu thế đó, các nhà lãnh đạo ASEAN càng nhận thức rõ hơn tính bức thiết trong việc đẩy nhanh tiến trình hội nhập trong nội khối cũng như ngoài khu vực. Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1/2016) và Đại hội X của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (1/2016) tiếp tục khẳng định đường lối, chính sách coi trọng và không ngừng củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, coi đó là di sản vô giá của hai dân tộc và là quy luật phát triển, là một trong những nhân tố đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước. Gìn giữ, phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là mong muốn và nguyện vọng chính đáng của nhân dân hai nước vì sự phát triển bền vững; là góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động hòng xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, hai dân tộc. Việc đưa quan hệ Việt Nam - Lào lên tầm cao mới sẽ đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào, đồng thời đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. 

Cần có sự phối hợp và sự hợp tác chặt chẽ giữa hai nước trong việc thực hiện chiến lược phát triển; đẩy mạnh hợp tác về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực... dù trong hoàn cảnh nào hai Đảng và nhân dân hai nước cũng làm hết sức mình để giữ gìn và vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, truyền mãi cho các thế hệ mai sau; không ngừng phát triển quan hệ hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả và thiết thực, vì sự phát triển phồn vinh của mỗi nước, vì hòa bình ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. 

Picture5

Lễ kỷ niệm 55 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Lào sáng 18/7 tại Hà Nội

Ảnh: Báo Thế giới & Việt Nam

Chặng đường 55 năm bảo vệ và phát triển quan hệ đặc biệt mà Việt Nam và Lào cùng tiến hành đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Bằng quyết tâm chính trị của hai Đảng và quyết tâm điều hành, quản lý của hai Nhà nước, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp, các địa phương và nhân dân hai nước, quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, từ hợp tác về chính trị, đối ngoại, quốc phòng - an ninh đến hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, hợp tác giữa các địa phương. Chặng đường đó cũng chính là thời gian thử thách quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào hết sức vui mừng nhận thấy quan hệ hai nước tiếp tục có bước phát triển tốt đẹp trên tất cả các lĩnh vực. Việt Nam và Lào đều dành những ưu tiên cao nhất cho nhau trong mối quan hệ, đồng thời vừa bảo đảm tôn trọng tính pháp lý và những thông lệ quốc tế. Điều đó càng khẳng định mối quan hệ đặc biệt hiếm có Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là tài sảnchung vô giá của hai Đảng, hai dân tộc, là quy luật tồn tại và phát triển, làquan hệ sống còn và là nguồn lực quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ, pháttriển ở mỗi nước.

Kỷ niệm 55 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của hai nước cần gìn giữ và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, nó gắn liền và quyết định tới mọi thành công của mỗi người và trong công cuộc xây dựng phát triển hai nước.

Picture6

Gặp mặt các lưu sinh viên Lào nhân dịp Tết truyển thống Bun-pi-may của Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Picture7

Đoàn sinh viên khoa Toán - Lý - Tin tham dự Cuộc thiVô địch Tin học văn phòng thế giới sinh viên Hong Sả Khon Sí Mương May (thứ hai từ phải sang) đạt 969/1000 điểm (PowerPoint)

Picture8

Đoàn sinh viên khoa Toán - Lí - Tin tham dự Cuộc thiKỳ thi Olympic Toán học Toàn Quốc năm 2017, em Dênh Chăn Thạ Pha Văn (thứ hai từ phải sang) là thí sinh người nước ngoài duy nhất trong lịch sử các kì thi đến nay đã tham gia và giành giải Khuyến khích môn Giải tích

Trường Đại học Tây Bắc với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho nước bạn anh em, mà trước hết là 8 tỉnh bắc Lào. Hiện nay, có gần 600 sinh viên Lào đang học tập tại Trường Đại học Tây Bắc, và riêng Khoa Toán - Lí - Tin có 137 sinh viên. Khoa thường xuyên tổ chức các hoạt động tọa đàm, giao lưu với các sinh viên Lào nhằm giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để các bạn lưu học sinh Lào sớm phá bỏ được rào cản ngôn ngữ, nhanh chóng chiếm lĩnh những kiến thức đã học. Các giảng viên vững chuyên môn luôn nhiệt tình giảng dạy để các sinh viên Lào có được thành tích học tập và kĩ năng nghề nghiệp tốt để có thể trở về phục vụ cho đất nước sau này. Các sinh viên Việt Nam và Lào đã và đang học tập tại Khoa Toán - Lí - Tin nói riêng và Trường Đại học Tây Bắc nói chung là những thế hệ tương lai tiếp tục xây dựng và vun đắp tình cảm hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước đời đời bền vững.

 

Lê Ngọc Diệp

Share
2
3
Metro-Windows-8
Windows-8-Simple-Background